Sách nói Trại Hoa Vàng - Nguyễn Nhật Ánh
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đôi Lứa Xứng Đôi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Vịnh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:40' 08-04-2026
Dung lượng: 736.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Vịnh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:40' 08-04-2026
Dung lượng: 736.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Đôi Lứa Xứng Đôi
Nam Cao
1
Lời giới thiệu
Văn học tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ, phong phú, đặc sắc của văn xuôi tự sự trong các thể tài phóng sự,
truyện ngắn, truyện dài, tùy bút... Đến nay, sau gần một thế kỷ, trải qua
nhiều thăng trầm, không ít tác phẩm trong số này đã chứng tỏ giá trị lâu dài
của mình và trở thành những mẫu mực hầu như không thể vượt qua những tác phẩm kinh điển. Tuy vậy, sự lắng đọng của giá trị, sự kết tinh của
mẫu mực, ở khu vực di sản này vẫn là những tiến trình đang diễn biến hơn
là đã hoàn tất. Do vậy, việc chọn ra và giới thiệu một cách tương đối có hệ
thống những tác phẩm thuộc phần di sản này, là việc cần thiết.
Ở cuốn sách bạn đọc đang cầm trên tay, chúng tôi giới thiệu tập truyện
ngắn Đôi lứa xứng đôi của nhà văn Nam Cao (1917-1951).
Tập truyện ngắn Đôi lứa xứng đôi, ký bút danh Nam Cao, ra mắt bởi
nhà xuất bản Đời Mới tại Hà Nội năm 1941, gồm 7 truyện: "Đôi lứa xứng
đôi", "Nguyện vọng", "Hai khối óc", "Giờ lột xác", "Chú Khì người đánh tổ
tôm vô hình", "Ma đưa", "Cái chết của con Mực". Được biết, truyện đứng
đầu tập vốn được tác giả đặt tên trong bản thảo là "Cái lò gạch cũ", nhưng
người viết lời tựa cho tập truyện - nhà văn Lê văn Trương - đổi thành "Đôi
lứa xúng đôi", có lẽ nhằm gây chú ý cho công chúng đương thời, về sau,
khi đưa in lại truyện này trong tập Luống cày (tập truyện của 4 tác giả:
Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Hội Văn hóa cứu
quốc xuất bản, Hà Nội, 1945!, tác giả Nam Cao đổi tên truyện của mình
thành "Chí Phèo".
Xuất hiện giữa những năm mà cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (19391945) đang ngày càng khốc liệt, khi các diễn biến cuộc chiến ở tận giời Âu
hay ở ngay châu Á hầu như chi phối, thu hút mọi sự quan tâm của người
đương thời, kể cả các giới làm báo làm văn, tập truyện Đôi lứa xứng đôi
hầu như đã không gây được động tĩnh gì trong dư luận văn nghệ. Song điều
đó không hề làm nản chí tác giả Nam Cao: chính đây là lúc ông bước vào
những năm tháng sáng tác sung sức và hiệu quả nhất của mình, với hàng
loạt truyện ngắn, truyện vừa, truyện thiếu nhi, xuất hiện hầu như hằng tuần
trên các tờ báo ở Hà Nội.
Phải qua gần hai chục năm sau, trong đời sống hòa bình, giá trị thực sự
của các sáng tác của Nam Cao mới được thừa nhận rộng rãi trong các giới
2
sáng tác và phê bình, nghiên cứu văn học.
Truyện "Chí Phèo" hầu như được nhất trí xem như một kiệt tác, đỉnh
cao trong văn nghiệp Nam Cao. đồng thời là kiệt tác đỉnh cao của văn xuôi
tự sự Việt Nam những năm 1930-1945.
"Chí Phèo" kể về cuộc đời một anh dân cày lưu manh hóa. Là một đứa
trẻ bị bỏ rơi ngay từ lúc lọt lòng, Chí Phèo may mắn được người ta nhặt về
nuôi rồi trở thành canh điền nhà Bá Kiến, một kỳ mục có thế lực ở làng Vũ
Đại. Vì một cớ riêng nào đấy, một ngày kia y bị bắt rồi bị đi tù. Bảy, tám
năm sau y trở về làng như một tay anh chị, định gây sự với kẻ đã đẩy mình
đi tù là Bá Kiến. Nhưng viên kỳ mục này cao mưu nên rốt cuộc Chí trở
thành tay chân của Bá Kiến, trở thành kẻ chuyên nghề đâm thuê chém
mướn. Suốt vài chục năm liền Chí chìm trong những cơn say, làm việc ác
trong lúc say, đến nỗi y không biết rằng mình đã trở thành một con quỷ dữ
trong làng.
Một ngày kia, sau một cuộc rượu say sưa, trên đường về nhà, giữa vườn
chuối trên bãi sông, y bỗng thấy một người đàn bà. Đấy là thị Nở, nhà cũng
gần vườn nhà Chí, một người ngẩn nga, đã xấu xí ma chê quỷ hờn, lại có
bệnh hủi; thị đi kín nước dưới sông, tạm ngồi nghỉ rồi ngủ quên. Y sán đến
ôm lấy, người đàn bà thức dậy vật lộn với y, dọa kêu làng. Ngạc nhiên vì có
người dám dọa kêu làng, là cái đã gần như độc quyền của mình, y vừa cất
tiếng la làng vừa đè người đàn bà xuống. Hành vi ấy khiến thị Nở bật cười,
rồi từ chống đối thị xoay ra ưng thuận. Sau cuộc tình, cả hai ngủ thiếp đi.
Gần sáng, Chí thức dậy vì bị một cơn đau bụng rồi nôn thốc nôn tháo. Thị
Nở dìu y vào lều, rồi trở về nhà nấu nồi cháo hành mang sang cho y. Suốt
năm ngày, cả hai được sống những giờ phút hạnh phúc và quyết định lấy
nhau. Nhưng dự định ấy hỏng ngay khi thị Nở về hỏi bà cô ruột, bị mắng
một trận, nhất quyết không cho. Thất vọng, Chí lại uống và lại đến gây sự
với Bá Kiến. Bá Kiến lại cho tiền nhưng lần này Chí đến không phải để xin
tiền. Y bảo đến để xin làm người lương thiện, nhưng y biết là không thể
được nữa rồi, vậy chỉ còn một cách. Y rút dao đâm nhiều nhát vào Bá Kiến,
vừa đâm vừa la làng. Khi có người chạy đến thì thấy y đã nằm giãy giụa
giữa đám máu tươi. Bá Kiến và Chí Phèo đều chết. Bà cô thị Nở được dịp
đay nghiến cháu. Thị Nở nhìn xuống bụng mình, nghĩ không biết sẽ ra sao
nếu mình có chửa, rồi thị nghĩ đến cái lò gạch bỏ hoang...
Giới nghiên cứu đánh giá cao sự khám phá của Nam Cao về xã hội làng
quê người Việt, nhất là làng xã đồng bằng miền Bắc, nơi mà sự phân tầng
3
xã hội đã chia ra thành những nhóm người, những loại người. Bên cạnh
nhóm đông nhất là những người vô danh trong làng, nổi bật lên hai nhóm:
nhóm cường hào, vai vế bề trên gồm những Bá Kiến, Lý Cường. Đội Tảo...
và nhóm cùng đinh lưu manh hóa gồm những Chí Phèo, Binh Chức, Năm
Thọ... Nhóm cường hào cai trị, bòn rút đám đông dân quê, lại cũng cạnh
tranh, sát phạt nhau... chính vì vậy, nhóm cùng đinh lưu manh hóa đã được
bọn cường hào sử dụng làm tay chân để trừng trị lẫn nhau và áp chế dân
làng.
Nhiều tác phẩm tự sự trong văn học thời kỳ 1930-1945, của Ngô Tất
Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp, v.v... cũng đã tố cáo nạn cường
hào áp chế dân lành ở các làng quê. Nam Cao và một số nhà văn khác, từ
những năm 1940 trở đi, nhấn thêm những nét thẫm màu ở bức tranh làng
quê quen thuộc ấy, do sự xuất hiện đám cùng đinh lưu manh hóa, bị bọn
cường hào lợi dụng.
Điều đáng kể là Nam Cao không chỉ mô tả những nông dân lưu manh
hóa như những con người bị tha hóa, mất nhân tính, trở thành những công
cụ gieo rắc tội lỗi, gieo rắc sự kinh hoàng vào đời sống làng quê. Ở nhân
vật Chí Phèo, như nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra, Nam Cao đã cho thấy cả xu
thế tha hóa, vật hóa, phi nhân hóa ở những nông dân lưu manh hóa, lại
cũng cho thấy cả sự cưỡng lại quá trình vật hóa, phi nhân hóa ở những
nông dân ấy. Việc Chí Phèo đến nhà Bá Kiến đòi "được làm người lương
thiện", rồi biết rằng không thể nào xóa đi những tội lỗi mình từng gây ra
theo lệnh viên kỳ mục ấy, Chí xông đến giết lão rồi tự sát, - hành vi ấy
được nhiều nhà nghiên cứu xem như biểu hiện sự cưỡng chống quyết liệt
trước xu thế tha hóa ấy của người nông dân, của con người nói chung.
Đặc sắc ngôn ngữ của Nam Cao trong truyện "Chí Phèo" là, hầu như
lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự nghệ thuật tiếng Việt ở thời đại mới, nhà
văn đưa ra một kiểu lời kể như là của kẻ đứng bên trong nhân vật, hoặc
thường là đứng kề nhân vật. Kiểu lời kể của kẻ hình như đứng bên trong
nhân vật khiến cho việc mô tả các biến động tâm lý nhân vật trở nên hết
sức năng động. Những cơn say của Chí Phèo, những mạch suy nghĩ của y,
sự chuyển hướng bất ngờ của y từ suy nghĩ sang hành động... - tất cả những
mảnh vụn đều trở nên liền lạc, hữu lý, do giác độ "kề cận nhân vật" này của
người kể chuyện.
Thật ra, Nam Cao vẫn sử dụng ngôn ngữ tự sự kiểu "cổ điển", thường
xuyên nhất vẫn là dùng lời kể từ ngôi thứ ba ("vô hình", "biết tuốt"), nhưng
4
lời văn kể chuyện, dưới tay bút Nam Cao, dường như không cũ đi, với thời
gian.
Bên cạnh truyện "Đôi lứa xứng đôi" (tức "Chí Phèo"), trong tập truyện
đầu tay này của Nam Cao còn 6 truyện ngắn khác. Các truyện "Nguyện
vọng", "Hai khối óc", "Giờ lột xác", "Cái chết của con mực" đều nói về
những khía cạnh đời sống của giới trí thức nghèo, - viên chức nhỏ, nhà
giáo,... cái giới sẽ còn được Nam Cao tiếp cận khai thác bằng những sáng
tác hay hơn, kết tinh hơn, về sau. Hai truyện "Chú Khì người đánh tổ tôm
vô hình", "Ma đưa" thuộc loại truyện ma, trong đó Nam Cao ghi lại những
nét thuộc đời sống tâm linh, tâm thức dị đoan của người dân các làng quê
thời ông.
Phải nói là ở tập truyện ngắn đầu tay này, chất lượng các truyện rõ ràng
là không đồng đều. Nhưng ở đây lại có "Đôi lứa xứng đôi" (tức "Chí
Phèo") là một kiệt tác. Điều này cho thấy nhà văn Nam Cao đã định hình cả
về văn phong, tư tưởng và nghệ thuật của mình từ rất sớm, hầu như chỉ sau
dăm bảy năm vào nghề văn.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Hà Nội, 26/10/2014
Lại Nguyên Ân
5
Tựa
Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những truyện tình mơ mộng và
hùa nhau "phụng sự" cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã
mạnh bạo đi theo một lối riêng, nghĩa là ông đã không thèm đếm xỉa đến
cái sở thích của độc giả. Những cạnh của tài ông đã đem đến cho văn
chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của
con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình.
Quyển Đôi lứa xứng đôi có được độc giả hoan nghênh hay không, đó là
một điều tôi chưa cần biết, tôi chỉ biết rằng lúc viết nó, ông Nam Cao đã
không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói,
không tả theo cái lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn
với những cạnh sắc của riêng mình.
Những cạnh sắc ấy, nếu ông cứ giữ cho nó sắc mãi thì chúng ta có thể
tin ở tương lai văn nghiệp ông. Vườn văn Việt Nam thiếu những bông hoa
lạ, thiếu những nghệ sĩ táo bạo, thiếu những bản thể đặc biệt.
Dám nói và dám viết những cái khác người, ông Nam Cao đã đem đến
cho ta những khoái cảm mới mẻ, và ông đã tỏ ra một người có can đảm.
Tôi yêu sự can đảm của ngòi bút ông cũng như tôi yêu những thể văn
đã vượt được ra ngoài khuôn sáo thông thường, nên tôi sung sướng viết
mấy dòng này để giới thiệu ông với độc giả.
Láng, le 22-10-41,
Lê văn Trương
6
8
Đôi lứa xứng đôi
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt
đầu chửi giời. Có hề gì? Giời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế
cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất
cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ, "Chắc nó trừ mình ra!"
Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được
mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng
cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ
hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến
nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ
nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi
cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có
giời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết...
°°°
Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần
truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta
rước lấy và đem về cho một người đàn bà góa mù. Người đàn bà góa mù
này bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì
hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Năm hai mươi tuổi, hắn
làm canh điền cho ông lý Kiến, bấy giờ cụ bá Kiến, ăn tiên chỉ làng. Hình
như có mấy lần bà ba nhà ông lý, còn trẻ lắm mà lại hay ốm lửng, bắt hắn
bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy. Người ta bảo ông lý ra đình thì
hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ này. Người
bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây, mà ông lý thì hay đau lưng lắm; những
người có bệnh đau lưng hay sợ vợ mà chúa đời là khỏe ghen. Có người bảo
ông lý ghen với anh canh điền khỏe mạnh mà sợ bà ba không dám nói. Có
người thì bảo anh canh điền ấy được bà ba quyền thu quyền bổ trong nhà
tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người nói một cách. Chẳng
biết đâu mà lần. Chỉ biết một hôm Chí bị người ta giải huyện rồi biệt tăm
đến bảy, tám năm rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần về. Hắn về lớp này
trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng
cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng
câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với áo
10
Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một
ông thày tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!
Hắn về hôm trước hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó
suốt từ trưa cho đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến
cổng nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi. Cụ bá không có nhà. Thấy
điệu bộ hung hăng của hắn, bả cả đùn bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà
tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chăng.
Mắc phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm
cầm một cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái
cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó chửi thì tai liền miệng ấy, chửi
rồi lại nghe. Thành thử chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượụ.. Thật
là ầm ỹ! Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả:
xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi
người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại cả nhà cụ bá. Mà chửi
mới sướng miệng làm sao! Mới ngoa ngắt làm sao! Họ bảo nhau: phen này
cha con thằng bá Kiến đố còn dám vác mặt đi đâu nữa! Mồ mả tổ tiên đến
lộn lên mất. Cũng có người hiền lành hơn bảo, "Phúc đời nhà nó, chắc ông
lý không có nhà...". Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ bá nổi tiếng là
hách dịch, coi người như rơm rác. Phải ông lý Cường thử có nhà xem nào!
Quả nhiên họ nói có sai đâu! Đấy, có tiếng người sang sảng quát, "Mày
muốn lôi thôi gì? Cái thằng không cha không mẹ này! Mầy muốn lôi thôi
gì?..." Đã bảo mà! Cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường. Lý Cường đã
về! Lý Cường đã về! Phải biết... A ha! Một cái tát rất kêu. Ôi! Cái gì thế
này? Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch. Thôi cứ gọi là tan xương! Bỗng
"choang" một cái, thôi phải rồi, hẳn đập cái chai vào cột cổng... Ồ hắn kêu!
Hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. Ồ hắn kêu!
- Ôi làng nước ôi! Cứu tôi với... Ôi làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó
đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!...
Và họ thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào
vào mặt. Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông xáo quanh hắn,
sủa rất hăng. Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn mà cười nhạt, cười khinh bỉ.
Hừ! Ngỡ là gì, chẳng hóa ra nằm ăn vạ! Thì ra hắn định đến đây nằm vạ!
Người ta tuôn đến xem. Mấy cái ngõ tối chung quanh đùn ra biết bao
nhiêu là người! Thật ồn ào như chợ. Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá
vững dạ vì có anh lý, cũng xưng xỉa ra chửi góp. Thật ra, các bà muốn xem
Chí Phèo ra làm sao? Không khéo nó có ý gieo vạ cho cụ ông phen này...
11
Nhưng kìa cụ ông đã về. Cụ cất tiếng rất sang hỏi: "Cái gì mà đông như
thế này?" Chỗ này "lạy cụ" chỗ kia "lạy cụ", người ta kính cẩn đứng giãn
ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài không nhúc nhích rên khe khẽ như gần chết.
Thoáng nhìn qua, đã hiểu cơ sự rồi. Làm lý trưởng rồi chánh tổng, bây
giờ lại đến lượt con cụ làm lý trưởng, những việc như thế này cụ không lạ
gì. Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:
- Các bà đi vào nhà: đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
- Cả các ông các bà nữa, về thôi đi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?
Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì
nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi. Ai
dại gì đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng. Sau còn trơ lại
Chí Phèo và cha con cụ bá. Bây giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:
- Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:
- Tao chỉ liều chết với bố con nhà mầy đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì
có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm: người ta bảo cụ hơn
người cũng chỉ bởi cái cười.
- Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người
chứ có phải có ngóe đâu? Lại say rồi phải không?
Rồi đổi giọng cụ làm thân mật hỏi:
- Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:
- Nào đứng lên đi. Cứ vào đâu uống nước đã. Có cái gì ta nói chuyện tử
tế với nhau. Cần gì phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết,
mang tiếng cả.
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
- Khổ quá! Giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế
nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại
thằng lý Cường nóng tính không nghĩ trước nghĩ sau. Ai, chứ anh với nó
còn có họ kia đấy.
Chí Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi
nguôi. Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên. Cụ bá biết rằng mình đã thắng,
đưa mắt nháy con một cái, cụ quát:
12
- Lý Cường đâu! Tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước,
mau lên!
Cụ dắt Chí Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu
đi; hắn chỉ cố khập khiễng cái chân như bị què. Là vì lúc ấy trong người
hắn rượu đã hơi nhạt rồi, không còn kêu gào chửi bới; và không còn nghe
kêu gào chửi bới, hắn thấy hình như không hăng hái nữa. Sự ngọt ngào làm
mềm nhũn, vả lại những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hắn hình như
trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi của ngày xưa, hắn
thấy quá táo bạo. Không táo bạo mà dám gây sự với cha con lý Kiến, bốn
đời làm tổng lý. Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai. Hắn làm cái ông gì ở
làng này? Không vây cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có,
đến bố mẹ cũng không... Ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau với lý trưởng,
chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại, Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào,
Bắc kỳ nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Thử hỏi đã
có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế? Kể
làm rồi có chết cũng là cam tâm. Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại
xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nước. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào.
Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại
lừa hắn và nhà rồi lôi thôi? Ồ mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi
ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi cho
vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi vu
cho là ăn cướp thì sao? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớp
cái nước gì mà phải chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng cọp,
hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào. Nhưng
nghĩ ngợi một tí, hắn lại bảo: kêu lên cũng không nước gì! Lão bá vừa nói
một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa, liệu có
còn ai ra? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm mấy nhát
thì cũng đau. Thôi cứ vào! Vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập đầu thì vào
ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó có giở quẻ,
hắn cũng chỉ đến đi ở tù. Ở tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào...
Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả. Bá Kiến quả có ý
muốn dàn xếp cùng hắn thật. Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc
đời, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân. Chí Phèo
không là anh hùng, nhưng nó là cái thằng liều lĩnh. Liều lĩnh thì còn ai
thèm chấp! Thế nào là mềm nắn rắn buông? Cái nghề làm việc quan, nếu
nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm. Cụ vào bảo lý
13
Cường như thế đấy. Vũ dũng như hắn mà làm được lý trưởng là nhờ có cụ.
Cụ mà chết đi rồi "chúng nó" lại không cho ăn bùn.
Tiếng vậy, làm tổng lý không phải việc dễ. Ở cái làng này, dân quá hai
nghìn, xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ làm lý
trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét. Hồi năm nọ, một thầy địa lý qua đây có
bảo đất làng này vào cái thế "quần ngư tranh thực", vì thế mà bọn đàn anh
chỉ là một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bảy mối,
bè nào cũng muốn ăn. Ngoài mặt tử tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng
lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ. Ngay thằng
Chí Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ẩy đến? Nếu
cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện có khi tốn tiền. Cái nghề quan bám
thằng có tóc ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng bỏ tù nó,
cũng có ngày nó được ra, liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ? Cụ
phải cái vụ thằng Năm Thọ, mãi đến bây giờ chưa quên.
Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu. Hồi ấy, bá Kiến mới ra
làm lý trưởng, nó hình như kình nhau với lão ra mặt; lý Kiến muốn trị
nhưng chưa có dịp. Được ít lâu, hắn can dự và một vụ cướp bị bắt giam; lý
Kiến ngấm ngầm vận động cho vào tù. Vẫn tưởng một người vai vế như
Năm Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù làm gì còn dám vác cái mặt mo
về làng? Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cây đinh trước mắt. Nào
ngờ một buổi tối lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì Năm Thọ
vác dao xộc vào. Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu lên một tiếng thì
đâm chết liền, thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang
tên một người lương thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi. Nó bảo: nghe
nó thì nó đi biệt, mà không nghe nó thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra;
còn muốn sống với vợ con thì nghe nó.
Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe, Năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng
không bao giờ về nữa thật. Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ
hết những thằng du côn? Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lần về.
Mà thằng này lúc nó còn ở nhà, nào nó có ngạo ngược gì cho cam! Người
ta đã phải gọi hắn là cục đất. Ai bảo sao thì ư hữ làm vậy, mới quát một
tiếng, thì đã đái ra cả quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có
con vợ hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im im rồi về nhà hành vợ
chứ chẳng dám ho hoe gì, thế đấy: cái nghề đời hiền quá cũng hóa ngu, ở
đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc
đầu lên được. Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm nghèo rớt mồng tơi;
14
chỉ vì một miếng cũng không giữ được mà ăn; đứa nào nó vớ nó cũng xoay,
mà đứa nào xoay cũng chịu. Sau cùng bực quá, hắn ra đi lính. Lại càng
thêm tội! Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sây sớt ra
ngoài, những vẫn còn là vợ mình. Bực thì hóa ra mất vợ. Bởi vì chị vợ ở
nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng
nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt, ai mà chịu
được?
Nhà chị binh ở gần đường. Ông phó đi đánh bạc ban đêm về cũng tạt
vào; anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang,
thậm chí đến cái thằng hương điền, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho
các ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ gẫm. Vợ binh Chức đã nghiễm
nhiên thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý dịch lớn nhỏ
trong làng chuyên đổi. Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ,
cũng không nỡ bỏ hoài cái của không dưng được giời cho; và không bỏ
hoài, ông còn được lợi. Mỗi lần chị binh đi lĩnh lương hay lĩnh măng đa của
chồng, phải mượn ông lý đi nhận thực. Không ông lý nào vác nhà đi
Nam Cao
1
Lời giới thiệu
Văn học tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ, phong phú, đặc sắc của văn xuôi tự sự trong các thể tài phóng sự,
truyện ngắn, truyện dài, tùy bút... Đến nay, sau gần một thế kỷ, trải qua
nhiều thăng trầm, không ít tác phẩm trong số này đã chứng tỏ giá trị lâu dài
của mình và trở thành những mẫu mực hầu như không thể vượt qua những tác phẩm kinh điển. Tuy vậy, sự lắng đọng của giá trị, sự kết tinh của
mẫu mực, ở khu vực di sản này vẫn là những tiến trình đang diễn biến hơn
là đã hoàn tất. Do vậy, việc chọn ra và giới thiệu một cách tương đối có hệ
thống những tác phẩm thuộc phần di sản này, là việc cần thiết.
Ở cuốn sách bạn đọc đang cầm trên tay, chúng tôi giới thiệu tập truyện
ngắn Đôi lứa xứng đôi của nhà văn Nam Cao (1917-1951).
Tập truyện ngắn Đôi lứa xứng đôi, ký bút danh Nam Cao, ra mắt bởi
nhà xuất bản Đời Mới tại Hà Nội năm 1941, gồm 7 truyện: "Đôi lứa xứng
đôi", "Nguyện vọng", "Hai khối óc", "Giờ lột xác", "Chú Khì người đánh tổ
tôm vô hình", "Ma đưa", "Cái chết của con Mực". Được biết, truyện đứng
đầu tập vốn được tác giả đặt tên trong bản thảo là "Cái lò gạch cũ", nhưng
người viết lời tựa cho tập truyện - nhà văn Lê văn Trương - đổi thành "Đôi
lứa xúng đôi", có lẽ nhằm gây chú ý cho công chúng đương thời, về sau,
khi đưa in lại truyện này trong tập Luống cày (tập truyện của 4 tác giả:
Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Hội Văn hóa cứu
quốc xuất bản, Hà Nội, 1945!, tác giả Nam Cao đổi tên truyện của mình
thành "Chí Phèo".
Xuất hiện giữa những năm mà cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (19391945) đang ngày càng khốc liệt, khi các diễn biến cuộc chiến ở tận giời Âu
hay ở ngay châu Á hầu như chi phối, thu hút mọi sự quan tâm của người
đương thời, kể cả các giới làm báo làm văn, tập truyện Đôi lứa xứng đôi
hầu như đã không gây được động tĩnh gì trong dư luận văn nghệ. Song điều
đó không hề làm nản chí tác giả Nam Cao: chính đây là lúc ông bước vào
những năm tháng sáng tác sung sức và hiệu quả nhất của mình, với hàng
loạt truyện ngắn, truyện vừa, truyện thiếu nhi, xuất hiện hầu như hằng tuần
trên các tờ báo ở Hà Nội.
Phải qua gần hai chục năm sau, trong đời sống hòa bình, giá trị thực sự
của các sáng tác của Nam Cao mới được thừa nhận rộng rãi trong các giới
2
sáng tác và phê bình, nghiên cứu văn học.
Truyện "Chí Phèo" hầu như được nhất trí xem như một kiệt tác, đỉnh
cao trong văn nghiệp Nam Cao. đồng thời là kiệt tác đỉnh cao của văn xuôi
tự sự Việt Nam những năm 1930-1945.
"Chí Phèo" kể về cuộc đời một anh dân cày lưu manh hóa. Là một đứa
trẻ bị bỏ rơi ngay từ lúc lọt lòng, Chí Phèo may mắn được người ta nhặt về
nuôi rồi trở thành canh điền nhà Bá Kiến, một kỳ mục có thế lực ở làng Vũ
Đại. Vì một cớ riêng nào đấy, một ngày kia y bị bắt rồi bị đi tù. Bảy, tám
năm sau y trở về làng như một tay anh chị, định gây sự với kẻ đã đẩy mình
đi tù là Bá Kiến. Nhưng viên kỳ mục này cao mưu nên rốt cuộc Chí trở
thành tay chân của Bá Kiến, trở thành kẻ chuyên nghề đâm thuê chém
mướn. Suốt vài chục năm liền Chí chìm trong những cơn say, làm việc ác
trong lúc say, đến nỗi y không biết rằng mình đã trở thành một con quỷ dữ
trong làng.
Một ngày kia, sau một cuộc rượu say sưa, trên đường về nhà, giữa vườn
chuối trên bãi sông, y bỗng thấy một người đàn bà. Đấy là thị Nở, nhà cũng
gần vườn nhà Chí, một người ngẩn nga, đã xấu xí ma chê quỷ hờn, lại có
bệnh hủi; thị đi kín nước dưới sông, tạm ngồi nghỉ rồi ngủ quên. Y sán đến
ôm lấy, người đàn bà thức dậy vật lộn với y, dọa kêu làng. Ngạc nhiên vì có
người dám dọa kêu làng, là cái đã gần như độc quyền của mình, y vừa cất
tiếng la làng vừa đè người đàn bà xuống. Hành vi ấy khiến thị Nở bật cười,
rồi từ chống đối thị xoay ra ưng thuận. Sau cuộc tình, cả hai ngủ thiếp đi.
Gần sáng, Chí thức dậy vì bị một cơn đau bụng rồi nôn thốc nôn tháo. Thị
Nở dìu y vào lều, rồi trở về nhà nấu nồi cháo hành mang sang cho y. Suốt
năm ngày, cả hai được sống những giờ phút hạnh phúc và quyết định lấy
nhau. Nhưng dự định ấy hỏng ngay khi thị Nở về hỏi bà cô ruột, bị mắng
một trận, nhất quyết không cho. Thất vọng, Chí lại uống và lại đến gây sự
với Bá Kiến. Bá Kiến lại cho tiền nhưng lần này Chí đến không phải để xin
tiền. Y bảo đến để xin làm người lương thiện, nhưng y biết là không thể
được nữa rồi, vậy chỉ còn một cách. Y rút dao đâm nhiều nhát vào Bá Kiến,
vừa đâm vừa la làng. Khi có người chạy đến thì thấy y đã nằm giãy giụa
giữa đám máu tươi. Bá Kiến và Chí Phèo đều chết. Bà cô thị Nở được dịp
đay nghiến cháu. Thị Nở nhìn xuống bụng mình, nghĩ không biết sẽ ra sao
nếu mình có chửa, rồi thị nghĩ đến cái lò gạch bỏ hoang...
Giới nghiên cứu đánh giá cao sự khám phá của Nam Cao về xã hội làng
quê người Việt, nhất là làng xã đồng bằng miền Bắc, nơi mà sự phân tầng
3
xã hội đã chia ra thành những nhóm người, những loại người. Bên cạnh
nhóm đông nhất là những người vô danh trong làng, nổi bật lên hai nhóm:
nhóm cường hào, vai vế bề trên gồm những Bá Kiến, Lý Cường. Đội Tảo...
và nhóm cùng đinh lưu manh hóa gồm những Chí Phèo, Binh Chức, Năm
Thọ... Nhóm cường hào cai trị, bòn rút đám đông dân quê, lại cũng cạnh
tranh, sát phạt nhau... chính vì vậy, nhóm cùng đinh lưu manh hóa đã được
bọn cường hào sử dụng làm tay chân để trừng trị lẫn nhau và áp chế dân
làng.
Nhiều tác phẩm tự sự trong văn học thời kỳ 1930-1945, của Ngô Tất
Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp, v.v... cũng đã tố cáo nạn cường
hào áp chế dân lành ở các làng quê. Nam Cao và một số nhà văn khác, từ
những năm 1940 trở đi, nhấn thêm những nét thẫm màu ở bức tranh làng
quê quen thuộc ấy, do sự xuất hiện đám cùng đinh lưu manh hóa, bị bọn
cường hào lợi dụng.
Điều đáng kể là Nam Cao không chỉ mô tả những nông dân lưu manh
hóa như những con người bị tha hóa, mất nhân tính, trở thành những công
cụ gieo rắc tội lỗi, gieo rắc sự kinh hoàng vào đời sống làng quê. Ở nhân
vật Chí Phèo, như nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra, Nam Cao đã cho thấy cả xu
thế tha hóa, vật hóa, phi nhân hóa ở những nông dân lưu manh hóa, lại
cũng cho thấy cả sự cưỡng lại quá trình vật hóa, phi nhân hóa ở những
nông dân ấy. Việc Chí Phèo đến nhà Bá Kiến đòi "được làm người lương
thiện", rồi biết rằng không thể nào xóa đi những tội lỗi mình từng gây ra
theo lệnh viên kỳ mục ấy, Chí xông đến giết lão rồi tự sát, - hành vi ấy
được nhiều nhà nghiên cứu xem như biểu hiện sự cưỡng chống quyết liệt
trước xu thế tha hóa ấy của người nông dân, của con người nói chung.
Đặc sắc ngôn ngữ của Nam Cao trong truyện "Chí Phèo" là, hầu như
lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự nghệ thuật tiếng Việt ở thời đại mới, nhà
văn đưa ra một kiểu lời kể như là của kẻ đứng bên trong nhân vật, hoặc
thường là đứng kề nhân vật. Kiểu lời kể của kẻ hình như đứng bên trong
nhân vật khiến cho việc mô tả các biến động tâm lý nhân vật trở nên hết
sức năng động. Những cơn say của Chí Phèo, những mạch suy nghĩ của y,
sự chuyển hướng bất ngờ của y từ suy nghĩ sang hành động... - tất cả những
mảnh vụn đều trở nên liền lạc, hữu lý, do giác độ "kề cận nhân vật" này của
người kể chuyện.
Thật ra, Nam Cao vẫn sử dụng ngôn ngữ tự sự kiểu "cổ điển", thường
xuyên nhất vẫn là dùng lời kể từ ngôi thứ ba ("vô hình", "biết tuốt"), nhưng
4
lời văn kể chuyện, dưới tay bút Nam Cao, dường như không cũ đi, với thời
gian.
Bên cạnh truyện "Đôi lứa xứng đôi" (tức "Chí Phèo"), trong tập truyện
đầu tay này của Nam Cao còn 6 truyện ngắn khác. Các truyện "Nguyện
vọng", "Hai khối óc", "Giờ lột xác", "Cái chết của con mực" đều nói về
những khía cạnh đời sống của giới trí thức nghèo, - viên chức nhỏ, nhà
giáo,... cái giới sẽ còn được Nam Cao tiếp cận khai thác bằng những sáng
tác hay hơn, kết tinh hơn, về sau. Hai truyện "Chú Khì người đánh tổ tôm
vô hình", "Ma đưa" thuộc loại truyện ma, trong đó Nam Cao ghi lại những
nét thuộc đời sống tâm linh, tâm thức dị đoan của người dân các làng quê
thời ông.
Phải nói là ở tập truyện ngắn đầu tay này, chất lượng các truyện rõ ràng
là không đồng đều. Nhưng ở đây lại có "Đôi lứa xứng đôi" (tức "Chí
Phèo") là một kiệt tác. Điều này cho thấy nhà văn Nam Cao đã định hình cả
về văn phong, tư tưởng và nghệ thuật của mình từ rất sớm, hầu như chỉ sau
dăm bảy năm vào nghề văn.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Hà Nội, 26/10/2014
Lại Nguyên Ân
5
Tựa
Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những truyện tình mơ mộng và
hùa nhau "phụng sự" cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã
mạnh bạo đi theo một lối riêng, nghĩa là ông đã không thèm đếm xỉa đến
cái sở thích của độc giả. Những cạnh của tài ông đã đem đến cho văn
chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của
con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình.
Quyển Đôi lứa xứng đôi có được độc giả hoan nghênh hay không, đó là
một điều tôi chưa cần biết, tôi chỉ biết rằng lúc viết nó, ông Nam Cao đã
không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói,
không tả theo cái lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn
với những cạnh sắc của riêng mình.
Những cạnh sắc ấy, nếu ông cứ giữ cho nó sắc mãi thì chúng ta có thể
tin ở tương lai văn nghiệp ông. Vườn văn Việt Nam thiếu những bông hoa
lạ, thiếu những nghệ sĩ táo bạo, thiếu những bản thể đặc biệt.
Dám nói và dám viết những cái khác người, ông Nam Cao đã đem đến
cho ta những khoái cảm mới mẻ, và ông đã tỏ ra một người có can đảm.
Tôi yêu sự can đảm của ngòi bút ông cũng như tôi yêu những thể văn
đã vượt được ra ngoài khuôn sáo thông thường, nên tôi sung sướng viết
mấy dòng này để giới thiệu ông với độc giả.
Láng, le 22-10-41,
Lê văn Trương
6
8
Đôi lứa xứng đôi
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt
đầu chửi giời. Có hề gì? Giời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế
cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất
cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ, "Chắc nó trừ mình ra!"
Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được
mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng
cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ
hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến
nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ
nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi
cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có
giời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết...
°°°
Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần
truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta
rước lấy và đem về cho một người đàn bà góa mù. Người đàn bà góa mù
này bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì
hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Năm hai mươi tuổi, hắn
làm canh điền cho ông lý Kiến, bấy giờ cụ bá Kiến, ăn tiên chỉ làng. Hình
như có mấy lần bà ba nhà ông lý, còn trẻ lắm mà lại hay ốm lửng, bắt hắn
bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy. Người ta bảo ông lý ra đình thì
hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ này. Người
bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây, mà ông lý thì hay đau lưng lắm; những
người có bệnh đau lưng hay sợ vợ mà chúa đời là khỏe ghen. Có người bảo
ông lý ghen với anh canh điền khỏe mạnh mà sợ bà ba không dám nói. Có
người thì bảo anh canh điền ấy được bà ba quyền thu quyền bổ trong nhà
tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người nói một cách. Chẳng
biết đâu mà lần. Chỉ biết một hôm Chí bị người ta giải huyện rồi biệt tăm
đến bảy, tám năm rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần về. Hắn về lớp này
trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng
cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng
câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với áo
10
Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một
ông thày tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!
Hắn về hôm trước hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó
suốt từ trưa cho đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến
cổng nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi. Cụ bá không có nhà. Thấy
điệu bộ hung hăng của hắn, bả cả đùn bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà
tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chăng.
Mắc phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm
cầm một cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái
cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó chửi thì tai liền miệng ấy, chửi
rồi lại nghe. Thành thử chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượụ.. Thật
là ầm ỹ! Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả:
xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi
người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại cả nhà cụ bá. Mà chửi
mới sướng miệng làm sao! Mới ngoa ngắt làm sao! Họ bảo nhau: phen này
cha con thằng bá Kiến đố còn dám vác mặt đi đâu nữa! Mồ mả tổ tiên đến
lộn lên mất. Cũng có người hiền lành hơn bảo, "Phúc đời nhà nó, chắc ông
lý không có nhà...". Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ bá nổi tiếng là
hách dịch, coi người như rơm rác. Phải ông lý Cường thử có nhà xem nào!
Quả nhiên họ nói có sai đâu! Đấy, có tiếng người sang sảng quát, "Mày
muốn lôi thôi gì? Cái thằng không cha không mẹ này! Mầy muốn lôi thôi
gì?..." Đã bảo mà! Cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường. Lý Cường đã
về! Lý Cường đã về! Phải biết... A ha! Một cái tát rất kêu. Ôi! Cái gì thế
này? Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch. Thôi cứ gọi là tan xương! Bỗng
"choang" một cái, thôi phải rồi, hẳn đập cái chai vào cột cổng... Ồ hắn kêu!
Hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. Ồ hắn kêu!
- Ôi làng nước ôi! Cứu tôi với... Ôi làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó
đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!...
Và họ thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào
vào mặt. Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông xáo quanh hắn,
sủa rất hăng. Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn mà cười nhạt, cười khinh bỉ.
Hừ! Ngỡ là gì, chẳng hóa ra nằm ăn vạ! Thì ra hắn định đến đây nằm vạ!
Người ta tuôn đến xem. Mấy cái ngõ tối chung quanh đùn ra biết bao
nhiêu là người! Thật ồn ào như chợ. Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá
vững dạ vì có anh lý, cũng xưng xỉa ra chửi góp. Thật ra, các bà muốn xem
Chí Phèo ra làm sao? Không khéo nó có ý gieo vạ cho cụ ông phen này...
11
Nhưng kìa cụ ông đã về. Cụ cất tiếng rất sang hỏi: "Cái gì mà đông như
thế này?" Chỗ này "lạy cụ" chỗ kia "lạy cụ", người ta kính cẩn đứng giãn
ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài không nhúc nhích rên khe khẽ như gần chết.
Thoáng nhìn qua, đã hiểu cơ sự rồi. Làm lý trưởng rồi chánh tổng, bây
giờ lại đến lượt con cụ làm lý trưởng, những việc như thế này cụ không lạ
gì. Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:
- Các bà đi vào nhà: đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
- Cả các ông các bà nữa, về thôi đi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?
Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì
nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi. Ai
dại gì đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng. Sau còn trơ lại
Chí Phèo và cha con cụ bá. Bây giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:
- Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:
- Tao chỉ liều chết với bố con nhà mầy đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì
có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm: người ta bảo cụ hơn
người cũng chỉ bởi cái cười.
- Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người
chứ có phải có ngóe đâu? Lại say rồi phải không?
Rồi đổi giọng cụ làm thân mật hỏi:
- Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:
- Nào đứng lên đi. Cứ vào đâu uống nước đã. Có cái gì ta nói chuyện tử
tế với nhau. Cần gì phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết,
mang tiếng cả.
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
- Khổ quá! Giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế
nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại
thằng lý Cường nóng tính không nghĩ trước nghĩ sau. Ai, chứ anh với nó
còn có họ kia đấy.
Chí Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi
nguôi. Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên. Cụ bá biết rằng mình đã thắng,
đưa mắt nháy con một cái, cụ quát:
12
- Lý Cường đâu! Tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước,
mau lên!
Cụ dắt Chí Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu
đi; hắn chỉ cố khập khiễng cái chân như bị què. Là vì lúc ấy trong người
hắn rượu đã hơi nhạt rồi, không còn kêu gào chửi bới; và không còn nghe
kêu gào chửi bới, hắn thấy hình như không hăng hái nữa. Sự ngọt ngào làm
mềm nhũn, vả lại những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hắn hình như
trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi của ngày xưa, hắn
thấy quá táo bạo. Không táo bạo mà dám gây sự với cha con lý Kiến, bốn
đời làm tổng lý. Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai. Hắn làm cái ông gì ở
làng này? Không vây cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có,
đến bố mẹ cũng không... Ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau với lý trưởng,
chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại, Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào,
Bắc kỳ nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Thử hỏi đã
có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế? Kể
làm rồi có chết cũng là cam tâm. Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại
xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nước. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào.
Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại
lừa hắn và nhà rồi lôi thôi? Ồ mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi
ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi cho
vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi vu
cho là ăn cướp thì sao? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớp
cái nước gì mà phải chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng cọp,
hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào. Nhưng
nghĩ ngợi một tí, hắn lại bảo: kêu lên cũng không nước gì! Lão bá vừa nói
một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa, liệu có
còn ai ra? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm mấy nhát
thì cũng đau. Thôi cứ vào! Vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập đầu thì vào
ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó có giở quẻ,
hắn cũng chỉ đến đi ở tù. Ở tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào...
Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả. Bá Kiến quả có ý
muốn dàn xếp cùng hắn thật. Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc
đời, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân. Chí Phèo
không là anh hùng, nhưng nó là cái thằng liều lĩnh. Liều lĩnh thì còn ai
thèm chấp! Thế nào là mềm nắn rắn buông? Cái nghề làm việc quan, nếu
nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm. Cụ vào bảo lý
13
Cường như thế đấy. Vũ dũng như hắn mà làm được lý trưởng là nhờ có cụ.
Cụ mà chết đi rồi "chúng nó" lại không cho ăn bùn.
Tiếng vậy, làm tổng lý không phải việc dễ. Ở cái làng này, dân quá hai
nghìn, xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ làm lý
trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét. Hồi năm nọ, một thầy địa lý qua đây có
bảo đất làng này vào cái thế "quần ngư tranh thực", vì thế mà bọn đàn anh
chỉ là một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bảy mối,
bè nào cũng muốn ăn. Ngoài mặt tử tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng
lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ. Ngay thằng
Chí Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ẩy đến? Nếu
cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện có khi tốn tiền. Cái nghề quan bám
thằng có tóc ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng bỏ tù nó,
cũng có ngày nó được ra, liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ? Cụ
phải cái vụ thằng Năm Thọ, mãi đến bây giờ chưa quên.
Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu. Hồi ấy, bá Kiến mới ra
làm lý trưởng, nó hình như kình nhau với lão ra mặt; lý Kiến muốn trị
nhưng chưa có dịp. Được ít lâu, hắn can dự và một vụ cướp bị bắt giam; lý
Kiến ngấm ngầm vận động cho vào tù. Vẫn tưởng một người vai vế như
Năm Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù làm gì còn dám vác cái mặt mo
về làng? Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cây đinh trước mắt. Nào
ngờ một buổi tối lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì Năm Thọ
vác dao xộc vào. Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu lên một tiếng thì
đâm chết liền, thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang
tên một người lương thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi. Nó bảo: nghe
nó thì nó đi biệt, mà không nghe nó thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra;
còn muốn sống với vợ con thì nghe nó.
Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe, Năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng
không bao giờ về nữa thật. Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ
hết những thằng du côn? Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lần về.
Mà thằng này lúc nó còn ở nhà, nào nó có ngạo ngược gì cho cam! Người
ta đã phải gọi hắn là cục đất. Ai bảo sao thì ư hữ làm vậy, mới quát một
tiếng, thì đã đái ra cả quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có
con vợ hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im im rồi về nhà hành vợ
chứ chẳng dám ho hoe gì, thế đấy: cái nghề đời hiền quá cũng hóa ngu, ở
đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc
đầu lên được. Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm nghèo rớt mồng tơi;
14
chỉ vì một miếng cũng không giữ được mà ăn; đứa nào nó vớ nó cũng xoay,
mà đứa nào xoay cũng chịu. Sau cùng bực quá, hắn ra đi lính. Lại càng
thêm tội! Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sây sớt ra
ngoài, những vẫn còn là vợ mình. Bực thì hóa ra mất vợ. Bởi vì chị vợ ở
nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng
nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt, ai mà chịu
được?
Nhà chị binh ở gần đường. Ông phó đi đánh bạc ban đêm về cũng tạt
vào; anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang,
thậm chí đến cái thằng hương điền, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho
các ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ gẫm. Vợ binh Chức đã nghiễm
nhiên thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý dịch lớn nhỏ
trong làng chuyên đổi. Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ,
cũng không nỡ bỏ hoài cái của không dưng được giời cho; và không bỏ
hoài, ông còn được lợi. Mỗi lần chị binh đi lĩnh lương hay lĩnh măng đa của
chồng, phải mượn ông lý đi nhận thực. Không ông lý nào vác nhà đi
 





